Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

"Cậu nhỏ" "bầm dập" vì "sex miệng" là một trong số những tai nạn dễ gặp khi quan hệ tình dục!


Tình dục có thể coi là một cách giải tỏa căng thẳng tuyệt vời với mỗi người. Tuy nhiên, không phải lúc nào “chuyện đó” cũng thật hoàn hảo như bạn muốn bởi những “tai nạn”, thậm chí là những “tai nạn” nguy hiểm hoàn toàn có thể xảy ra với bạn trong lúc “hành sự”, làm hỏng “cuộc yêu” của hai người. Dưới đây là một vài trong số đó:
Bài liên quan: 
"Chồng bạn em "yêu" được cả tiếng đồng hồ"
Đòi "yêu" chồng già chẳng chịu
"Chuyện ấy" ngày hè
Thiếu tự tin vì “cậu nhỏ” không bình thường
1. “Sa mạc khô cạn”
Thử hình dung còn điều gì khiến bạn mất “hứng” hơn là sự “khô khan” khi “quan hệ”. Không phải lúc nào “cô bé” cũng “ngoan ngoãn” nghe lời để tiết chất nhờn khi “sex”. Trong lúc đó, nếu bạn cứ cố gắng “ép” “cậu nhỏ” phải “qua cửa”, điều đó sẽ vừa làm đau “cô nhỏ”, lại vừa khiến cả hai cùng chẳng còn “hứng thú” khi tâm lý đang cực kỳ căng thẳng.
2. Lãnh “đủ” vì “sex miệng”
“Sex miệng” gần như không thể thiếu được trong “chuyện đó” của hai người. Đó là một cách “thỏa mãn” “đối phương” vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, ngay cả khi cô nàng của bạn có thực hiện “thủ thuật” này “chuyên nghiệp” tới đâu thì “cậu nhỏ” vẫn hoàn toàn có thể dính “nạn” như thường. Tai nạn thường gặp là “cậu bé” đỏ lừ do các mạch máu gây ra. Hoặc nếu quá “nhạy cảm”, “cậu nhỏ” cũng có thể bị dị ứng và sưng tấy. Không phải lúc nào “oral sex” cũng suôn sẻ như bạn nghĩ!
3. “Vỡ tim” vì “cậu bé” không thể “hạ màn”
Nếu “cậu nhỏ” không thể “cương cứng” khiến bạn “mất hứng” vì việc “cậu nhỏ” cứ thẳng mãi không thôi cũng là một vấn đề không kém phần rắc rối. Việc máu “dồn ứ” tại đây mà không thể lưu thông bình thường khiến “cậu nhỏ” sưng tấy và luôn “dựng đứng”, gây cho “khổ chủ” đau đớn và những lo lắng về tâm lý. Để giải quyết “phiền phức” này, chỉ còn một cách, đó là đến gặp bác sĩ!
Lãnh đủ vì
"Cậu nhỏ" làm "chuyện đó" gặp "trục trặc"! (Ảnh minh họa)
4. Khi “cậu nhỏ” cần “tiếp viện”
Sau một cuộc chạy “marathon” “sex”, “cậu nhỏ” vô cùng “mệt mỏi” và khó có thể giữ vững “phong độ” ở vòng sau. Bởi thế, hãy “tiếp viện” để “cậu nhỏ” luôn hăng hái và cho bạn cảm giác tuyệt vời. Nếu có thể, hãy dùng chất bôi trơn lúc này. Nó sẽ khiến bạn thêm hào hứng “nhập cuộc” và “chuyện đó” dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu bạn không nhờ tới bất cứ một sự “hỗ trợ” nào  thì mọi cố gắng của bạn sẽ chỉ khiến “cậu bé” thêm tổn thương và sưng tấy, ảnh hưởng tới sống sinh lý bình thường của vợ chồng bạn.
5. “Cậu nhỏ” cũng vô cùng “nhạy cảm”!
Không phải lúc nào “trục trặc” cũng xảy ra khi bạn làm “chuyện đó”. Nhưng chúng cũng rất dễ dàng “cản trở” “cuộc vui” của bạn nếu bạn bất cẩn trong lúc “hành sự”. “Cậu nhỏ” thường vô cùng nhạy cảm. Nhưng nếu bạn biết cách “âu yếm”, “cậu bé” sẽ là “hỗ trợ” đắc lực để “cuộc yêu” thăng hoa!
EVA

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Bé từ 9 tháng - 10 tuổi - Phải chích đủ 3 lần mũi Vaccin Sởi !!!

 Nếu đang băn khoăn về vắc xin sởi, hãy đọc bài này! - hình 1

Mọi thắc mắc của bạn đọc về vắc xin sởi, từ việc tại sao phải tiêm 2 mũi vắc xin, tác dụng phụ cho đến đối tượng không được tiêm... đều được BS Nguyễn Trí Đoàn giải đáp cụ thể. Việc chích ngừa sởi kịp thời và đẩy đủ là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa bệnh sởi

Vaccine sởi (cũng như quai bị, Rubella hay trái rạ) là vaccine sống giảm độc lực, có nghĩa đó là virus sởi sống nhưng đã làm yếu đi để không gây ra bệnh thực sự. Thường ở những nước đang phát triển như Việt Nam, chương trình tiêm chủng mở rộng chích mũi sởi đầu tiên cho bé 9 tháng tuổi. Trước sinh bé nhận kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai, trong đó có thể có kháng thể chống lại sởi, kháng thể này sẽ được sử dụng dần và thường hết khi khoảng 1 tuổi. Vì vậy, nếu bé chích vaccine sởi trước 1 tuổi, kháng thể còn trong máu sẽ tiêu diệt 1 phần vaccine sởi đó, cơ thể chỉ đáp ứng tạo kháng thể đối với phần vaccine còn lại, có thể là chỉ còn 50% hay 60% vaccine chích vào. Hiện tượng này gọi là đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn,

Vì vậy, nếu bé được chích mũi vaccine sởi trước 1 tuổi thì liều vaccine đó không được tính là 1 mũi chích đầu tiên, và từ 1 tuổi trở lên phải chích lại (thường chích mũi sởi - quai bị - Rubella) và lúc đó mới tính là mũi chích đầu tiên (mũi 1). Nếu bé chích vaccine sởi đầu tiên vào lúc 1 tuổi trở lên thì đáp ứng miễn dịch được xem là hoàn toàn và lượng kháng thể tạo ra đủ sử dụng trong vài năm, do đó bé sẽ được chích nhắc lại 1 mũi vaccine sởi (hay sởi - quai bị - Rubella) (mũi 2) lúc 4 - 6 tuổi (không nhất thiết phải tiêm nhắc lại sớm hơn, tuy nhiên có thể tiêm nhắc lại sớm hơn nếu muốn, miễn là phải cách mũi vaccine sống tối thiểu 4 tuần lễ). Nếu chích liều đầu tiên sau 1 tuổi thì hiệu quả bảo vệ của vaccine sởi là hơn 97%. Do đó, có những bé được chích sởi liều đầu tiên trước 1 tuổi, đến sau 1 tuổi thì kháng thể giảm nhiều do đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn, nếu bé không được chích nhắc lại mũi vaccine sởi thì bé vẫn có nguy cơ mắc bệnh sởi.

Tuy nhiên, đối với những bé đã chích ngừa sởi và đã có đáp ứng miễn dịch mà bị sởi thì thường sẽ bị nhẹ hơn những bé chưa được chích ngừa sởi bao giờ.

Bác sĩ Trí Đoàn chia sẻ thêm: “Nếu con bạn đã được chích ngừa sởi rồi và đã chích theo lịch đầy đủ thì bạn không phải lo lắng quá mức như các phụ huynh đang bị những thông tin trên các phương tiện đại chúng “bủa vây” như hiện nay”.

Trường hợp vaccine sởi tiêm trước 1 tuổi không đáp ứng miễn dịch hoàn toàn thì nó vẫn có hiệu quả bảo vệ tạm thời. Do đó, nếu như đang có dịch sởi như hiện nay, bé từ 6 tháng - 11 tháng vẫn có thể chích 1 mũi sởi để bảo vệ tạm thời. Tuy nhiên, đến sau 1 tuổi bé vẫn phải được chích sởi (hay sởi - quai bị - Rubella) mũi 1. Nếu bé tiếp xúc với bệnh nhân bị sởi và chưa được chích ngừa sởi, việc chích ngừa sởi trong vòng 72 giờ sau khi tiếp xúc cũng có thể giảm nguy cơ bị bệnh sởi hay giảm nguy cơ bị sởi nặng.

Nguyên nhân dịch bệnh sởi bùng phát?

Hiện tượng dịch sởi quay lại gần đây có lẽ một phần do các phụ huynh đã không cho các bé đi chích ngừa đầy đủ do lo ngại những phản ứng phụ của chích ngừa.

Kinh nghiệm của thế giới cho thấy rõ điều này. Năm 2012-2013 tại Anh và Wales xảy ra 1 dịch sởi gây bệnh cho khoảng 3000 bệnh nhân, hầu hết khoảng 10-18 tuổi. Nguyên nhân của vụ dịch sởi đó là do một nghiên cứu của BS Andrew Wakefield công bố vào năm 1998, cho rằng vaccine MMR (sởi - quai bị - Rubella) có liên quan đến bệnh tự kỷ ở trẻ em. Vì vậy, các phụ huynh đã từ chối chích ngừa cho con mình. Kết quả là những trẻ không được chích ngừa sởi đầy đủ lúc đó đã không có đủ miễn dịch bảo vệ với sởi nên bị mắc bệnh sởi trong trận dịch đó.

Trở lại kinh nghiệm của Việt Nam. Vào năm 2006 có 1 vụ tai biến sau khi chích vaccine MMR tại 1 số trường ở quận 5, khiến 1 bé tử vong và khoảng 5 - 6 bé khác bị nhiễm trùng huyết, khiến cho các phụ huynh không ai dám cho con chích ngừa MMR. Thực chất tai biến đó không liên quan đến bản thân vaccine MMR, mà là do vi khuẩn tụ cầu lây vào một số bé được chích và gây nhiễm trùng huyết (nguồn gốc của vi khuẩn đó có lẽ từ hầu họng của 1 nhân viên chích ngừa). Sau đó 1 thời gian, bệnh sởi đã quay lại. Thời gian gần đây, cũng do một số thông tin báo chí đăng tải các vụ xảy ra sau khi chích ngừa (mà đa số các vụ đó nguyên nhân tử vong không liên quan đến vaccine) mà phụ huynh không cho con chích ngừa kịp thời và đầy đủ, khiến một số bệnh quay lại như sởi và thủy đậu.

Vậy để chích ngừa kịp thời và đầy đủ, có một số biện pháp hiệu quả và đơn giản. Khi bé đi khám định kỳ, lúc đó có thể chích được bao nhiêu mũi vaccine thì hãy cho bé chích cùng 1 lúc (tất cả các vaccine đều có thể chích cùng một lúc được). Như vậy sẽ không phải đi nhiều lần, còn bé sẽ được bảo vệ kịp thời và không gây ra tình trạng thiếu hụt vaccine như hiện nay.

Nếu bé đi khám bệnh vì bệnh lý gì đó mà không có sốt, bé vẫn có thể chích ngừa được, ví dụ bé đang ho, sổ mũi, ói, tiêu chảy vẫn có thể chích ngừa được nếu bé không sốt và vẫn chơi (kinh nghiệm là khi phụ huynh dẫn bé đi khám bệnh, nên đem theo sổ chích ngừa để bác sĩ biết bé còn cần chích vaccine nào nữa). Trong tình hình thiếu nhiều loại vaccine như hiện nay (vaccine sởi - quai bị - Rubella cũng đang thiếu), bé vẫn nên đi chích ngừa các loại bệnh khác, đặc biệt là chích ngừa cúm cho trẻ nhỏ vì chúng vẫn có thể bị lây cúm và bị biến chứng nặng do cúm (viêm phổi, thậm chí tử vong).

Tác dụng phụ khi tiêm vắc xin sởi?

Như mọi loại vaccine khác, vaccine sởi cũng có thể có một số tác dụng phụ. Có khoảng 10% bé có thể sốt và phát ban sau khi tiêm vaccine sởi khoảng 1-2 tuần, tuy nhiên tình trạng này nhẹ và tự khỏi hoàn toàn.
Đối tượng không được tiêm vắc xin sởi

Vaccine sởi là vaccine sống nên trên nguyên tắc không được tiêm cho phụ nữ đang mang thai hay người đang suy giảm miễn dịch. Đương nhiên, người dị ứng nặng với thành phần trong vaccine sởi (ví dụ dị ứng với kháng sinh Neomycine) cũng không tiêm vaccine này được. Tuy nhiên, vaccine sởi vẫn có thể tiêm cho phụ nữ đang cho con bú.

Biện pháp phòng ngừa bệnh sởi

Ngoài biện pháp chích ngừa sởi để phòng bệnh, cũng có một số biện pháp khác có hiệu quả (tuy không cao bằng tiêm ngừa).

Virus sởi cũng lây giống những virus đường hô hấp khác, do đó nên che miệng khi ho hay hắt hơi hay rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng và nước sát khuẩn cũng là cách rất tốt để ngừa bệnh sởi lây lan.

Thói quen của người lớn ở Việt Nam là hay hôn trẻ nhỏ, đó là cách thể hiện tình thương, tuy nhiên hành động này cũng có thể lây những bệnh lý đường hô hấp cho trẻ nhỏ. Do đó, người lớn không nên hôn mặt trẻ nhằm tránh lây lan các bệnh đường hô hấp.

Bác sĩ  Trí Đoàn - PK Victoria

Một phụ nữ tử vong sau khi bơm silicon lỏng khắp người

 

Bơm silicon lỏng từ mặt đến ngực, tay, chân và bị sốc nhiễm trùng, một phụ nữ đã tử vong. Một trường hợp phải cấp cứu tai biến do nâng ngực bằng cách bơm silicon lỏng từ những người "hành nghề" thẩm mỹ dạo - Ảnh: Bệnh viện Chợ Rẫy cung cấp

Theo nguồn tin của Thanh Niên Online, Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) đã tiếp nhận một người phụ nữ nhập viện trong tình trạng sốc nhiễm trùng nặng sau khi bơm silicon lỏng khắp cơ thể để làm đẹp.

Bệnh nhân là bà H. (ngụ tỉnh Trà Vinh) đã tử vong vào rạng sáng nay 27.4.

Bệnh nhân H. được đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy ngày 26.4 trong tình trạng người xanh tái, vã mồ hôi, sốt cao 39,5 độ C, lơ mơ, bị sốc nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết, theo dõi thuyên tắc phổi...

Được biết, vào ngày 25.4, bà H. được một người làm nghề thẩm mỹ dạo đến nhà bơm silicon lỏng rải rác khắp cơ thể - hai bên bầu ngực, hai bên gò má, ở vùng thái dương, vùng cổ, mu bàn tay, mu bàn chân.

Sau đó bà H. mệt, khó thở.

Theo các bác sĩ khoa Tạo hình và Phẫu thuật thẩm mỹ Bệnh viện Chợ Rẫy, đây là lần đầu tiên khoa này tiếp nhận trường hợp bơm silicon lỏng quá nhiều nơi trên cơ thể như vậy.

Các vết bơm tiêm trên cơ thể bà H. bị sưng tấy đỏ, nhiễm trùng, chảy dịch vàng.

Một bác sĩ của khoa Tạo hình và Phẫu thuật thẩm mỹ cho biết gần đây có nhiều trường hợp bệnh nhân ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long gặp biến chứng vì không hiểu biết, đã bơm silicon lỏng vào cơ thể. Theo vị bác sĩ này, trước đây, các trường hợp trên gặp nhiều ở địa bàn tỉnh Bình Dương.

Trong khi từ lâu silicon lỏng đã bị cấm dùng trong y học, bởi biến chứng do nó gây ra. Silicon lỏng hiện chỉ được dùng trong ngành công nghiệp.

Biến chứng thường gặp sau khi bơm silicon lỏng vào cơ thể là nhiễm trùng tại chỗ, nhất là bơm chích ở nơi không đảm bảo vô trùng, người bơm không có chuyên môn y tế, sẽ gây nhiễm trùng huyết dẫn đến tử vong.

“Nếu bơm trúng vào mạch máu, khối silicon lỏng sẽ di chuyển làm thuyên tắc mạch máu, nguy hiểm nhất là thuyên tắc phổi, gần như 100% sẽ tử vong sau đó. Đáng lo lắng là những người hành nghề thẩm mỹ dạo, dễ dàng bơm silicon lỏng cho bệnh nhân, lại đang xuất hiện ở các tỉnh”, một bác sĩ thẩm mỹ nói.

Thanh Tùng - Thanh niên

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Bệnh sởi ở trẻ em

Bệnh sởi nguy hiểm như thế nào?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virút gây ra và dễ bùng phát thành dịch, rất thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ nhũ nhi vì sức đề kháng của trẻ còn yếu kém. Hàng năm, vào tháng 2 là thời điểm bệnh này lưu hành nhiều nhất.

Bệnh xảy ra quanh năm và lây truyền theo đường hô hấp, nên khả năng lây lan rất nhanh theo diện rộng và dễ dàng lan truyền từ những người đi du lịch quốc tế. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm trên thế giới có 30 - 40 triệu trường hợp mắc bệnh sởi và có khoảng 750.000 trường hợp tử vong, chủ yếu là trẻ em.
Tiêm phòng ngừa sởi ở trẻ em



Nhận biết nguyên nhân và triệu chứng

Tác nhân gây bệnh sởi là virút thuộc giống morbillivirus của họ Paramyxoviridae. Bệnh sởi là tình trạng nhiễm virút cấp tính. Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Sự lan truyền từ người bệnh đến người lành có thể xảy ra khi người lành hít phải những giọt không khí có virút sởi sau khi người bệnh xả ra 2 tiếng đồng hồ. Người bệnh có thể lây nhiễm cho người khác trước và sau vài ngày xuất hiện triệu chứng của bệnh.

Khi bị nhiễm sởi, sau giai đoạn ủ bệnh kéo dài khoảng 7 ngày - 2 tuần, bệnh nhân thường có những triệu chứng thường gặp sau đây:

- Lúc mới khởi bệnh trẻ thường bị sốt cao, khi dấu hiệu sốt thuyên giảm sẽ bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phát ban đặc trưng của sởi.

- Ban sởi rất đặc trưng: lúc đầu ban nổi ở sau tai, sau đó lan ra mặt, rồi lan dần xuống ngực bụng và lan ra toàn thân. Khi ban sởi biến mất cũng mất dần theo thứ tự đã nổi trên da, đặc điểm ban sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da rất đặc trưng thường gọi là “vằn da hổ”.

- Ngoài ra, trẻ bị mắc sởi thường có một số triệu chứng kèm theo như: chảy nước mũi, ho hay đỏ mắt, đôi khi trẻ bị tiêu chảy vì tình trạng viêm long đường tiêu hóa.

Những biến chứng thường gặp

Sự nguy hiểm của bệnh sởi chính là những biến chứng do bệnh gây ra. Trẻ em là đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao, nhất là khả năng bị những biến chứng nặng nề của bệnh. Những biến chứng thường gặp khi mắc bệnh sởi được ghi nhận tại các cơ sở y tế trong những năm qua cụ thể như sau:

- Biến chứng thường gặp nhất là viêm tai giữa cấp xảy ra ở 1/10 số trẻ bị nhiễm sởi.

- Viêm phổi nặng xảy ra khoảng 1/20 số trường hợp bị mắc sởi, có thể dẫn đến tử vong.

- Viêm não, xảy ra ở khoảng 1/1.000 số người mắc bệnh sởi.

- Tiêu chảy và ói mửa do sởi, thường xảy ra cho trẻ nhỏ, nhất là trẻ nhũ nhi.

- Mờ hoặc loét giác mạc có thể gây mù lòa, một biến chứng rất nguy hiểm của sởi.

- Suy dinh dưỡng nặng ở trẻ em hậu nhiễm sởi, làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

- Phụ nữ có thai mắc bệnh sởi có thể bị sảy thai, sinh non hay sinh trẻ nhẹ cân.

Chăm sóc trẻ nhiễm sởi đúng cách tại nhà

Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, điều quan trọng cần chú ý là thực hiện việc cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Người chăm sóc trẻ bệnh phải rửa tay sạch sẽ trước và sau mỗi lần tiếp xúc với trẻ bệnh, rồi mới được chăm sóc trẻ lành.

Do bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao nên việc phòng ngừa bệnh, tránh tình trạng lây lan trong cộng đồng là điều phụ huynh cần chú ý. Mọi người cần giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh nhà cửa và môi trường chung quanh, giữ gìn phòng ốc thông thoáng, sạch sẽ.

Nâng cao sức đề kháng cho trẻ nhỏ bằng chế độ ăn với đầy đủ dưỡng chất cần thiết, đồng thời tăng cường lượng nước uống giàu vitamin nhất là vitamin A để bảo vệ đôi mắt của trẻ mắc bệnh sởi.

Tránh quan niệm cho bệnh nhân kiêng tắm, kiêng gió sẽ làm cho bệnh thêm trầm trọng hơn.

Trong trường hợp đã có tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globulin miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Tuy nhiên, đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và ít phổ biến.

Ngoài ra, một phương pháp phòng ngừa vô cùng hiệu quả và an toàn là sử dụng vắc-xin để tiêm ngừa cho trẻ.

Thực hiện chủ động việc tiêm ngừa bệnh sởi

Phòng bệnh bằng vắc-xin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, theo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (gọi tắt là EPI).

Tuy nhiên theo, các nhà khoa học, việc tiêm một mũi vắc-xin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng vì tỉ lệ trẻ tiêm phòng bệnh bị “sót” cũng như tỉ lệ được miễn dịch của vắc-xin này cũng chỉ đạt ở mức 90%. Do vậy, cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2 lúc trẻ được 18 tháng tuổi, việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch đạt tới 99%.

Từ chiến dịch tiêm chủng mở rộng được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước, đến nay tỉ lệ mắc bệnh sởi ở Việt Nam đã giảm một cách rõ rệt. Ngành Y tế nước ta đã đặt ra mục tiêu, phấn đấu sẽ đạt được tỉ lệ mắc sởi chỉ còn 80 - 85 trường hợp mắc sởi mỗi năm vào năm 2012, đây là yêu cầu đặt ra khi thực hiện việc thanh toán bệnh sởi trong cộng đồng.

Vắc-xin sởi đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ cao sau khi tiêm ngừa, hơn 90% trẻ tiêm ngừa được bảo vệ phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này, đây là một vắc-xin rất an toàn vì rất hiếm hoặc hầu như không có trường hợp nào xảy ra phản ứng nghiêm trọng sau tiêm ngừa.

ThS.BS. ĐINH THẠC (BV. Nhi Đồng 1 - TP.HCM)-suckhoedoisong

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Trận đánh mới trong cuộc chiến bệnh sởi

Trương Hữu Khanh

Từ thực tế tiếp nhận điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các báo cáo tại Bệnh viện Nhi Trung ương thời gian qua cho thấy, các ca nhập viện và tử vong hầu hết là do biến chứng viêm phổi, suy hô hấp, trong khi trận sởi bùng lên cách đây vài năm chủ yếu gây biến chứng não.

Cả hai loại biến chứng đều nguy hiểm, song biến chứng hô hấp nguy hiểm hơn vì rất dễ gây tử vong. Theo tôi, cuộc chiến với bệnh sởi chính thức bắt đầu và đây là trận đánh cần phải được bàn kỹ mới có thể chiến thắng, nhất là vấn đề hỗ trợ hô hấp.

Số ca sởi miền Nam thực tế không thua miền Bắc, tuy nhiên bệnh nặng hay nhẹ là do nhiều yếu tố như nhân lực, cơ địa, vùng miền. Chẳng hạn miền Bắc ít có bệnh tay chân miệng, nhưng miền Nam thì có nhiều hơn.

Tại TP HCM khi thấy có dịch sởi, nhờ các bệnh viện tuyến quận huyện đã được tập huấn nên họ có thể giữ bệnh nhân lại điều trị, nếu gặp khó khăn sẽ nhờ các bệnh viện lớn hướng dẫn. Điều này giúp giảm tải bệnh viện tuyến trên. Trong khi hiện nay tại Hà Nội, hầu hết bệnh viện tuyến dưới, thậm chí một số tỉnh lân cận cũng chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương và đây chính là lý do gây quá tải.

Bệnh viện Nhi trung ương đang vỡ trận do nhân lực và nguồn lực không gánh nổi. Toàn bộ khoa Nhiễm và khoa Hồi sức của Bệnh viện Nhi Trung ương đang được sử dụng để điều trị sởi nhưng vẫn không kham nổi. Vì thế bệnh viện này cần phải được tăng nhân lực và thiết bị gấp đôi hiện tại thì mới giải quyết được.

Để khống chế ca tử vong do sởi, cần có ngay một phác đồ được cập nhật mới, phù hợp với tình hình sởi đang diễn ra. Phác đồ cũ được viết cách đây hơn 5 năm tập trung vào viêm não do thời điểm đó người mắc sởi chủ yếu biến chứng viêm não. Lần này do lượng bệnh nhân bị biến chứng hô hấp nhiều hơn nên phác đồ mới sẽ tập trung vào việc chăm sóc hô hấp.

Phác đồ mới cần phải xoáy vào hỗ trợ hô hấp để giảm tử vong do hô hấp; phương pháp phòng ngừa trong bệnh viện; và phân tuyến điều trị. Đặc biệt hỗ trợ hô hấp sẽ được viết chi tiết (bảo đảm cho trẻ bị suy hô hấp đầy đủ ôxy tùy mức độ bệnh) để các tuyến có thể thực hiện. Muốn làm tốt việc này phải cần thêm máy móc và con người đủ để theo dõi.

Số liệu tổng kết cho thấy đa số các ca tử vong do sởi ở Hà Nội là không chích ngừa, cho nên vấn đề chính để phòng ngừa bệnh sởi là phải chích ngừa. Một trong những sai lầm thường thấy là các bác sĩ tiêm phòng hay tư vấn tiêm văcxin 5 trong 1 Quinvaxem (bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B, viêm phổi, viêm màng não) rồi một tháng sau mới tiêm văcxin sởi cho các bé. Nhưng với tình hình hiện nay, theo tôi các bác sĩ cần tập trung ưu tiên tiêm văc xin sởi cho các bé vì chậm một tháng là các cháu đã có thể mắc bệnh.

Chúng ta hiện có đủ văcxin sởi. Trẻ dưới 3 tuổi sẽ được tiêm miễn phí, trên 3 tuổi thì tiêm dịch vụ chưa đến 200.000 đồng. Sau khoảng 10 ngày tiêm thì bé sẽ có miễn dịch. Trẻ tiêm rồi thì vẫn có thể mắc bệnh, nhưng bệnh nhẹ và không gây biến chứng.

Nguyên tắc của bệnh sởi xuất hiện theo mùa, nếu miễn dịch không có thì từ tháng 2 đến tháng 6 hằng năm bệnh sẽ xuất hiện. Sởi tấn công đầu tiên vào những người có nhóm miễn dịch thấp nhất. Như hiện nay, trẻ từ 12 tháng đến 2 tuổi mắc bệnh nhiều nhất do chưa tiêm phòng. Trẻ dưới 12 tháng là đối tượng bị tấn công thứ hai do nhóm này vẫn còn kháng thể từ cơ thể mẹ. Nhóm 9-10 tuổi bị tấn công cuối cùng, nhóm này có thể đã được tiêm từ nhỏ và đến tuổi này thì miễn dịch yếu đi.

Theo quan điểm của tôi, công bố dịch hay không thời điểm này không quan trọng mà là tất cả chúng ta phải làm gì để giải quyết tình trạng bệnh tăng? Ví dụ, truyền thông nên làm gì, người dân ý thức như thế nào, vai trò của điều trị làm gì, vai trò của nhà quản lý làm gì. Vì thế chỉ cần thông báo: "Hiện nay bệnh sởi đang có dịch tới mức tất cả cùng nhau phòng chống từ người dân cho đến truyền thông, đến cán bộ điều trị". Nó đồng nghĩa với việc chỉ đạo địa phương đang có nhiều ca bệnh và cần tập trung cao độ để khống chế bệnh.

Miền Nam dù bệnh sởi chưa bùng phát nhưng theo tôi vẫn cần phải lo chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Thứ nhất phải rà lại nguồn lực thuốc men, trang thiết bị và nhân lực. Thứ hai phải tập huấn lại cho các tỉnh. Các báo cáo hiện không thể hiện ca bệnh ở tỉnh nhưng thực tế ca nhiễm sởi ở Hà Nội vẫn có đến từ các tỉnh. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, lượng bệnh nhân ở tỉnh chuyển lên cũng chiếm khoảng 30%. Khi đã tập huấn cho các tỉnh các điều trị thì sẽ giảm tải cho tuyến trên.

Về phía phụ huynh, trẻ mắc sởi thường sốt, viêm họng và ho dữ dội sặc sụa là dấu hiệu cho thấy có thể mắc bệnh, tuy nhiên điều này không đáng sợ bằng khi trẻ bắt đầu thở nhanh. Lời khuyên của tôi là phụ huynh nếu theo dõi thấy trẻ thở nhanh thì nên đưa đến bệnh viện ngay. Ho nhiều hay sốt cao không liên quan đến độ nặng của bệnh mà chủ yếu là lo theo dõi cách thở và chăm sóc ăn uống vì các bé có thể suy sinh dưỡng luôn sau khi mắc bệnh. Ngoài thở nhanh, trẻ mắc sởi còn có thể bị viêm não, triệu chứng nặng là co giật.

Một trong những sai lầm cũng cần lưu ý từ phía các phòng mạch. Thấy trẻ sốt cao ho nhiều nhưng chưa phát ban, các bác sĩ ở phòng mạch nghĩ bé bị hốt ho viêm họng thông thường cho uống corticoid để giảm ho, nhưng điều này dễ gây nguy hiểm bởi corticoid gây giảm miễn dịch, nếu trẻ mắc sởi thì bệnh sẽ nặng hơn.

BS.Trương Hữu Khanh - VNE

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Cảnh giác với bệnh phổi kẽ

Bệnh phổi kẽ là các tổn thương gây ra sẹo tiến triển ở mô phổi, gây tình trạng khó thở và thiếu ôxy cho cơ thể. Hầu hết các ca bệnh tổn thương tiến triển dần dần, nhưng cũng có một số trường hợp xuất hiện đột ngột. Khi phổi đã bị sẹo thường không thể hồi phục.

Hít khói bụi, hóa chất, nhiễm khuẩn sẽ gây bệnh phổi kẽ

Các nghiên cứu cho thấy bệnh phổi kẽ do nhiều nguyên nhân gây ra:  tiếp xúc lâu dài với một số độc tố hoặc các chất ô nhiễm; hít phải bụi silic, sợi amiăng, bụi kim loại; tiếp xúc với khói, hóa chất, xăng dầu, amoniac, khí clo... Hít phải các chất hữu cơ như: ngũ cốc, mía đường, bụi từ phân chim, động vật, nấm mốc. Nhiễm khuẩn: nhiễm virut, vi khuẩn, nấm và nhiễm ký sinh trùng. Bức xạ: bệnh nhân đã được trị liệu bức xạ thì mức độ bệnh nặng phụ thuộc liều bức xạ. Thuốc bao gồm các loại thuốc hóa trị, thuốc điều trị rối loạn nhịp tim và các bệnh tim mạch khác, thuốc tâm thần và một số thuốc kháng sinh.
Cảnh giác với bệnh phổi kẽ 1
Móng tay có đường cong trên các đỉnh (club) trong bệnh phổi kẽ.
Một số bệnh có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh phổi kẽ gồm: lupút, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjogren, bệnh trào ngược dạ dày thực quản gây viêm phổi mạn tính có thể dẫn đến xơ hóa phổi. Tuy nhiên, nhiều trường hợp không thể biết rõ nguyên nhân.  

Các yếu tố nguy cơ gồm: viêm phổi kẽ, viêm tiểu phế quản, người trên 50 tuổi, hút thuốc lá thuốc lào, trào ngược dạ dày thực quản do acid dạ dày hoặc muối mật vào phổi.

Biểu hiện khi bị bệnh phổi kẽ
Bệnh nhân bị bệnh phổi kẽ có thể thấy các triệu chứng như sau: cảm giác khó thở, đặc biệt là trong hoặc sau khi lao động hay hoạt động thể lực vừa và nặng; ho khan. Thở khò khè. Khó thở và ho khô thường là dấu hiệu ban đầu. Đau ngực. Móng tay có thể có đường cong trên các đỉnh (club). Các triệu chứng có xu hướng nặng dần. Thời gian lâu khó thở diễn ra thường xuyên dù chỉ làm việc nhẹ như mặc quần áo, nói chuyện trên điện thoại, ăn uống.
Cảnh giác với bệnh phổi kẽ 2
Tổn thương phổi trong bệnh phổi kẽ.
Sở dĩ bệnh nhân bị khó thở là do: bệnh phổi kẽ gây viêm thành của các túi khí và các mô làm cho các túi khí bị dày lên và thành sẹo. Bình thường các túi khí đàn hồi cao, mở rộng và giãn nở nhịp nhàng theo từng hơi thở. Nhưng khi đã bị sẹo (xơ hóa) thành túi khí vừa cứng vừa dày làm cho khả năng đàn hồi co giãn của nó bị hạn chế, khí ôxy cũng khó vào máu qua những bức thành dày của túi khí làm cho cơ thể bị  thiếu ôxy.
Chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính (CT), có thể thấy hình ảnh tổn thương của phổi. Xét nghiệm chức năng phổi (PFTs); tập thể dục thử nghiệm: vì các triệu chứng của bệnh phổi kẽ sẽ nặng lên khi hoạt động, bác sĩ có thể đánh giá chức năng phổi; nội soi phế quản... có thể giúp ích cho chẩn đoán bệnh. 

 Biến chứng thường gặp
Tổn thương trong bệnh phổi kẽ có thể dẫn đến một loạt các biến chứng đe dọa tính mạng người bệnh: Thiếu ôxy trong máu; tăng huyết áp ở mạch máu phổi là tình trạng chỉ gây tăng huyết áp ở mạch máu trong phổi mà không gây tăng huyết áp toàn thân. Do mô sẹo cản trở lưu thông của các mao mạch trong phổi, hạn chế lưu lượng máu trong phổi dẫn đến tăng áp suất trong động mạch phổi, gây nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân; suy tim phải, suy hô hấp.

Lưu ý trong điều trị
Điều trị bệnh phổi kẽ cần kết hợp các loại thuốc sau đây: corticosteroid để chống viêm giúp giảm các triệu chứng bệnh. Thuốc này hiếm khi cải thiện chức năng phổi ở những người bị xơ hóa phổi. Tuy nhiên, không nên dùng thời gian dài vì corticosteroid có thể gây ra một số tác dụng phụ, như bệnh tăng nhãn áp, loãng xương, tăng đường huyết dẫn đến bệnh đái tháo đường, chậm lành vết thương, tăng tính nhạy cảm với nhiễm khuẩn. Azathioprine dùng kết hợp với corticosteroid để điều trị bệnh phổi kẽ. Acetylcystein có tác dụng chống ôxy hóa làm giảm tổn thương sẹo hóa phế nang. Anti - fibrotics cũng được dùng để làm giảm sự phát triển của mô sẹo. Ôxy liệu pháp có thể cải thiện giấc ngủ, giảm huyết áp ở buồng tim phải. Phục hồi chức năng phổi chủ yếu là biện pháp tập thể dục, thầy thuốc sẽ hướng dẫn bệnh nhân cách hít thở hiệu quả hơn; phối hợp với việc ăn uống đủ chất, tạo tâm lý thoải mái để bệnh mau hồi phục.
Cấy ghép phổi trong các trường hợp: bị bệnh phổi kẽ trầm trọng mà các biện pháp điều trị khác không có kết quả.
 ThS. Nguyễn Xuân Lục - Suckhoedoisong

Biện pháp phòng bệnh phổi kẽ
Bỏ hẳn thuốc lá thuốc lào; sử dụng quần áo bảo hộ lao động trong các nghề nghiệp phải tiếp xúc với các chất ô nhiễm, bụi silic, sợi amiăng, bụi kim loại, khói, hóa chất, bụi hữu cơ như ngũ cốc, mía đường, chăn nuôi chim, gà, động vật. Ðiều trị triệt để các bệnh nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng. Toàn thân và nhất là bệnh ở phổi. Ðối với bệnh nhân đã sử dụng trị liệu bức xạ, hóa trị liệu hoặc dùng các thuốc điều trị bệnh tim mạch, thuốc tâm thần và một số thuốc kháng sinh... cần được theo dõi chặt chẽ, khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm bệnh phổi kẽ và điều trị kịp thời, kết hợp với chế độ ăn uống đầy đủ và tập luyện  thể dục thường xuyên đều đặn. Ðiều trị tích cực các bệnh là nguyên nhân dẫn đến bệnh phổi kẽ như lupút, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp…

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

Nam sinh lớp 9 Nhiễm HIV do bị lạm dụng khi đi học bơi

 

Chuyện đau lòng này xảy ra với một học sinh nam, đang học lớp 9 một trường trung học cơ sở ở Q.Tân Bình, TP.HCM. Cả cha mẹ em và bản thân em này đều khóc hết nước mắt khi được bác sĩ thông báo em bị nhiễm HIV.

Người cảnh báo về trường hợp này là bác sĩ Trương Hữu Khanh - tiểu ban nhi Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM, trưởng khoa nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM. Bác sĩ Khanh kể em học sinh này được gia đình đưa đến Bệnh viện Nhi Đồng 1 khám bệnh với triệu chứng ốm yếu, sốt, ho, các bác sĩ đã cho em xét nghiệm máu và kết quả dương tính với HIV. Được sự động viên, em học sinh này mới kể lại câu chuyện đau lòng xảy ra với mình. Khoảng tháng 10-2013, em được đi học bơi ở một hồ bơi trên địa bàn Q.Tân Bình. Ngay buổi học đầu tiên, khi em vào phòng thay đồ để đi về thì bị một thanh niên lạ mặt, dáng người cao to, khoảng 30 tuổi xông vào phòng, bịt chặt miệng em lại không cho la lên và lạm dụng em qua đường hậu môn. Hai buổi học tiếp theo, em cũng bị người lạ mặt này xông vào và làm chuyện tương tự nên đến buổi học cuối cùng, em sợ quá không dám đến hồ bơi mà trốn buổi học này.

Khoảng 5-6 tháng sau khi bị lạm dụng, em bắt đầu có biểu hiện ốm yếu, sốt, ho nên gia đình mới đưa đến Bệnh viện Nhi Đồng 1 và bác sĩ phát hiện em bị nhiễm HIV. Theo bác sĩ Hữu Khanh, quan sát em qua các buổi tham vấn cho thấy khả năng em bị nhiễm HIV do bị lạm dụng khi đi học bơi là có cơ sở chứ em không thể tự tạo ra câu chuyện bị lạm dụng này. Đến nay, gia đình em vẫn chưa báo với nhà trường biết về việc con mình bị lạm dụng khi đi học bơi và đã bị nhiễm HIV.

Bác sĩ Khanh còn cho biết tháng 8-2013, bệnh viện cũng tiếp nhận và xét nghiệm một sinh viên nam 19 tuổi bị nhiễm HIV và cũng cho biết bị lạm dụng tương tự như vậy ở một hồ bơi tại Q.12. Theo lời kể của nam sinh viên này, khoảng tháng 3-2013, khi đang là học sinh trung học phổ thông, em có đi bơi. Một lần, khi bơi xong, hồ bơi rất vắng, em vào phòng thay đồ và bị một thanh niên cao lớn, ở độ tuổi ngoài 30 bất ngờ xông vào phòng bịt miệng và lạm dụng qua đường hậu môn. Sau đó khoảng năm tháng, em bắt đầu xuất hiện triệu chứng nhiễm HIV và được xét nghiệm. Hiện sinh viên này đang được điều trị bằng thuốc ARV (thuốc kháng virút HIV) và sức khỏe ổn định.

Bác sĩ Hữu Khanh nói ông thật sự rất lo lắng vì không loại trừ có thể còn một vài em khác cũng đã bị đối tượng xấu lạm dụng tương tự. Nếu không lên tiếng cảnh báo thì có thể đã có em bị lạm dụng tương tự nhưng không dám nói với gia đình, không đến cơ quan y tế kịp thời để khi sức khỏe có vấn đề, xuất hiện triệu chứng HIV mới tới thì đã chậm trễ.

Tuổi trẻ